Tác phẩm kinh điển: 3 thể loại âm nhạc quan trọng trong nền âm nhạc kinh điển (phần 1)- ATPbook.vn

Nền âm nhạc Kinh điển (classic) để lại 3 dấu ấn quan trọng trong nền văn hóa âm nhạc thế giới đến ngày nay. Đó là 3 thể loại: Sonate, Concerto, Symphony (Giao hưởng). 

Tác phẩm kinh điển: 3 thể loại âm nhạc quan trọng trong nền âm nhạc kinh điển (phần 1)

 người đang hỏi chúng tôi: “Làm sao để phân biệt ba hình thức này một cách nhanh nhất”. có thể nói: “Sonate là một tác phẩm khí nhạc dành cho một hoặc đôi lúc là hai nhạc cụ. Concerto là một bản sonate trong đó có sự so tài giữa một nhạc cụ độc tấu với cả dàn nhạc. Giao hưởng là một bản sonate dành cho cả dàn nhạc”.

Sonate – Những kiến thức cơ bản

Theo các nhà phân tích, lý luận âm nhạc, sonate “vừa là một hình thức âm nhạc (musical form), vừa là một hình thức (style)”. Một tác phẩm âm nhạc đủ sức mang cấu trúc của sonate, khi đó, người ta gọi tác phẩm đó mang “hình thức sonate” mà chúng ta vừa mới sử dụng quen trong bài viết ở kỳ 6 vừa qua. Bên cạnh đó, sonate còn là một loại tác phẩm âm nhạc, tương tự như oratorio, opera, concerto, v.v…, khi đó người ta  “thể loại sonate” tốt “liên khúc sonate”, mà chúng ta tìm hiểu trong số báo này.

Danh từ sonate xuất hiện ở Ý vào đầu thế kỷ 17, và chỉ  nghĩa đơn giản là một khúc khí nhạc nhỏ. Tuy cũng gồm nhiều chương với nhịp độ không giống nhau, nhưng sonate ở thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18 cũng chỉ yes tính chất gần với tổ khúc (suite) nhạc múa, và được gọi là sonate tiền cổ điển (sonate thời baroque). Domenico Scarlatti (Nhạc sĩ Ý, 1685 – 1757) đang  những đóng góp đáng kể trong việc hoàn thiện hình thức sonate. Ông viết tất cả 555 sonate. Trong đó ông bắt đầu sử dụng các kiểu vấn đề tương phản, làm cơ sở cho thành công hình thức sonate sau này. Cho đến Philipp Emanuel Bach (1714 – 1788), con trai của J. S. Bach, thể loại sonate  thêm nhiều tiến bộ rõ rệt, thể hiện ở sự kết hợp tinh tế giữa chất trữ tình du dương và chất suy tưcăng não của ngôn ngữ âm nhạc. Những nhà soạn nhạc vĩ đại của trường phái cổ điển Vienne (Haydn, Mozart) cũng đang yes những đóng góp quý báu cho thể loại này. Nhưng công lao lớn lớn nhất phải dành cho nhà soạn nhạc bậc thầy Beethoven, người đã hoàn chỉnh hình thức sonate một cách đỉnh cao, đưa thể loại này lên tuyệt vời nghệ thuật, thể hiện được một cách thức tài tình những tư tưởng lớn của thời kì và những diễn biến sâu sắc nhất của tâm hồn con người.

Domenico Scarlatti (Nhạc sĩ Ý, 1685 – 1757)

Domenico Scarlatti (Nhạc sĩ Ý, 1685 – 1757)

Liên khúc sonate cổ điển là một tác phẩm gồm nhiều chương kết nối lại với nhau, trong đó mỗi chương tương đối mang tính độc lập. Ngoài ra thành phần cần thiết và cần kíp của thể loại liên khúc sonate cổ điển là: trong số các chương trong tác phẩm, nhất thiết cần có một chương (thường là chương I) được vạch dưới hình thức sonate. Về bố cục, thể loại liên khúc sonate cổ điển thường bao gồm ba hoặc bốn chương với tốc độ khác nhau:

a. Chương I: thường được vạch ở hình thức sonate với nhịp độ mau, sôi nổi (nên thường được gọi là sonate allegro). Do biểu tượng và ý đồ nghệ thuật của thể loại sonate nên chương một nhằm mô tả chú trọng nội dung của tác phẩm. Hai vấn đề phản ánh các mặt tương phản của cuộc sống, tư tương và tâm hồn con người. Do đó, đủ nội lực nói chương I đang thể hiện phần nào tư tưởng và quan điểm của tác giả.

b. Chương II: thường được vạch ở nhịp độ chậm như: Andante, Adagio hay Largo. Chương II thường  giai điệu trữ tình như một ca khúc. đôi khi, nó cũng mang tính chất suy nghĩ hoặc bi thương (như trong Sonate số 12 của Beethoven, chương chậm là một hành khúc tang lễ – marche funèbre).

c. Chương III: Các nhà soạn nhạc ở thế kỷ 18 (như Haydn, Mozart) thường chỉ viết sonate ba chương, riêng Beethoven vừa mới sáng gầy dựng sonate bốn chương. Trong hình thức sonate bốn chương này, Beethoven đang đặt giữa chương hai và chương cuối một chương  nhịp điệu Scherzo. Tính chất âm nhạc ở đây khi thì vui nhộn, khi thì hóm hỉnh, châm biếm. Nó không giống điệu Menuet ở chỗ không bị gò bó vào tiết tấu vũ khúc, mà yes phong cách thức tự do và giàu sức diễn tả hơn. Là chương kết, thường  nhịp độ rất nhanh (vivace, presto). Chương kết có thể được mở trên cơ sở một điệu múa dân gian, khúc biến tấu (variation) của một chủ đề mang tính ca khúc, hoặc được viết theo hình thức Rondo. Từ thế kỷ 18 trở đi, do nhu cầu diễn đạt nội dung ngày càng sâu sắc và phong phú, nên chương kết cũng đủ sức được vạch ở hình thức sonate. Trong trường hợp này, chương kết  vị trí quan trọng trong việc tổng kết vấn đề đã nêu ra trong tác phẩm, khẳng định một kết luận bằng những ảnh tượng âm nhạc tràn đầy căng thẳng và sức diễn tả.

Concerto – Bản sonate của David và Goliath

Concerto ngày nay được hiểu như một liên khúc sonate dành cho một nhạc cụ độc tấu đối thoại với dàn nhạc: chàng David nhỏ bé (sau này trở thành Vua Do Thái) đối đầu với gã khổng lồ Goliath! Thật ra, kể từ khi được tạo dựngthể loại này đang trải qua nhiều dạng thức phát triển. Khái niệm “concerto” vừa mới được hiểu theo nhiều cách thức không giống nhau tùy mỗi thời kì.

Corelli

Corelli

Từ “concerto” trong tiếng Ý được xuất phát từ động từ “concertare” nghĩa là “cạnh tranh, ganh đua”. Ở đây, là sự ganh đua giữa một nhạc cụ độc tấu với cả dàn nhạc. Nhưng cũng yes người cho rằng, nguồn nguồn của tên gọi “concerto” là từ một danh từ La-tinh: “consortio” nghĩa là “sự hiệp nhất lại”. Ở đây, là sự hiệp nhất giữa hai bè: độc tấu và dàn nhạc để diễn tả cùng một nội dung.

Vào khoảng năm 1600, lần đi đầu trong trường phái Venise (với Gabrieli và Monteverdi và học trò người Đức của hai ông là Schütz) xuất hiện tên gọi “concerto” để chỉ chung các tác phẩm hoặc viết cho nhiều ban hợp xướng, hoặc phối hợp giữa thanh nhạc và khí nhạc. Cuối thế kỷ XVII, khái niệm “concerto” được coi như là một nguyên tắc thể loại để tạo nên các thể loại như: concerto grosso, triosonate, các motet dành cho solo hay hợp xướng. dữ dội của hình thức này là vào khoảng từ 1700 đến 1750 với Corelli, Händel, Vivaldi và Bach.

Vivaldi

Vivaldi

Từ lúc ra đời đến nay, concerto vừa mới lần lượt mang nhiều ý nghĩa không giống nhau:

1) Để gọi tên một tác phẩm viết cho một tốt nhiều bè giọng hát  nhạc cụ đệm. gợi ý như; “Concerti ecclesiastici a 8 voci” (1595) (Concerto giáo đường vạch cho 8 giọng) của Banchier. Tên gọi theo ý nghĩa này tồn tại mãi đến đầu thế kỷ XVIII. Chính Bach là người đang đưa ra tên gọi “concerto” với ý nghĩa trên cho một số bản cantate nhà thờ của ông.

Philipp Emanuel Bach (1714 – 1788)

Philipp Emanuel Bach (1714 – 1788)

2) Đó là một tác phẩm được viết cho vài nhạc cụ, trong đó yes nhạc cụ diễn loại bè trầm đánh số (figured bass, basso continuo) và thường yes giai điệu tương phản với các nhạc cụ không giốngthể loại concerto này tồn tại trong thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. ví dụ, 6 bản “Concerto Brandenburg” của Bach. Đặc biệt concerto của thời kỳ này  các thể loại:

a/. Concerto grosso là một tác phẩm dàn nhạc  vài chương, trong đó, theo tập quán, yes những đoạn dành cho một nhóm nhạc cụ độc tấu (gọi là concertino) diễn tấu tương phản với đoạn tutti (diễn theo bè trầm đánh số, figured bass) do toàn thể dàn nhạc (concerto grosso).

b/. Concerto độc tấu là loại concerto mà chúng ta thường gặp ngày nay, ttrong đó, yes một nhạc cụ cụ độc tấu diễn tấu cùng dàn nhạc. Khái niệm này  từ đầu thế kỷ XVIII, lúc đó, violon là nhạc cụ thường được dùng độc tấu. Với loại concerto này, người ta luôn phải nêu tên nhạc cụ độc tấu. ví dụ, “Concerto cho đàn Tranh và dàn nhạc” của nhạc sĩ Quang Hải.

3) Khái niệm “Concerto” còn được các nhà soạn nhạc hiện đại dùng với ý nghĩa nghĩa là một sáng tác cho một nhóm nhạc cụ hòa tấu (ensemble) nhưng k láy làm đến nhạc cụ (thường là đàn organ) để diễn bè trầm đánh số (figured bass). Ví dụ: “Concerto cho dàn nhạc” của Belá Bartók.

4) Concerto theo phong cách thức Ý (Concerto nach Italienischen Gusto) thường được gọi là “concerto Ý”, là một tác phẩm độc tấu của đàn clavecin, mô phỏng theo hình thức concerto độc tấu với dàn nhạc bằng phương thức sử dụng nổi bật sự tương phản giữa nghệ sĩ độc tấu với phần “Tutti”

Giao hưởng (symphony) – Bản sonate cho dàn nhạc

Kể từ khoảng năm 1750, thuật ngữ “symphony” được sử dụng với nghĩa “bản sonate dành cho cả dàn nhạc”. Trước đó, thuật ngữ này yes nhiều nghĩa không giống nhau. “Symphony”  căn nguyên từ tiếng Hy-lạp với nghĩa là “một chồng âm”. Người Hy-lạp cổ dùng từ này để gọi việc kết hợp các âm thanh một phương thức easy nghe với dàn đồng ca. Về sau, tuy nó được sử dụng nhiều cách thức khác nhau, nhưng thường nhất vẫn là để chỉ một loại khí nhạc. Một ngoại lệ là trong tác phẩm “Sacrae symphoniae” (Giao hưởng thánh) của G. Gabrieli và H. Schütz nó lại được dùng để chỉ thể loại âm nhạc dành cho nhạc cụ và cả giọng hát. Tên gọi symphony đang được áp dụng cho các chương khí nhạc của một vở opera (như vở “Orfeo” của Monteverdi ), cho phần gầy dựng đầu của tổ khúc nhạc khí (như trong “Sonate da camera” của Rosenmüller ), cho phần dạo đầu của một cantata (như trong bản Cantata số 156 của Bach), cho tên gọi ouverture (phần mở màn) của thể loại opera Ý, thậm chí cho phần dạo đầu của một ca khúc, tốt bất thường hơn, được Bach sử dụng để gọi tên các inventions (ứng tấu) 3 phần của mình.

HaydnHaydn

Giao hưởng hiện đại vẫn duy trì thể loại tác phẩm độc lập, dựa trên khuôn mẫu 3 chương từ ouverture Ý từ 1730 đến 1750. Các nhà soạn nhạc thành Vienne đã thêm một chương minuet (menuet) vào cấu trúc của ouverture Ý để yes được hình thức giao hưởng. Do đó, tuy người xem thường gọi Joseph Haydn (1732-1809) là “Cha của giao hưởng” (Father of symphony) nhưng như thế không yes nghĩa là ông vừa mới sáng gầy dựng nó, mà chỉ vì Haydn đang yes nhiều cải cách thức cần kíp và yes công cập nhật thể loại mạnh mẽ này qua 104 bản giao hưởng trong sự nghiệp sáng tác của ông. Từ các giao hưởng được vạch sau năm 1780, đặc biệt trong 12 giao hưởng Salomon sáng tác cho thành phố London (nên còn gọi là giao hưởng London), Haydn đã chịu hình hưởng nhiều về sự tinh tế và duyên dáng của Mozart, nhà soạn nhạc thế hệ sau ông. Đặc biệt, qua 3 giao hưởng sau cùng (trong số 41 giao hưởng, vạch vào năm 1788) của mình, Mozart vừa mới vượt xa Haydn và được tôn vinh bởi sự cân bằng âm sắc, diễn cảm và cách tạo cấu trúc cho giao hưởng.

Trong số 9 giao hưởng của Beethoven, “Symphony k. 3 – Eroica” là giao hưởng tiên phong theo phong cách mới. Nó được nhìn thấy như tiền thân của âm nhạc Lãng mạn,và đặc biệt “Symphony k. 9” Với quan niệm lớn nhất về cấu trúc thể loại của symphony trước khi những giao hưởng đồ sộ của Mahler xuất hiện. Trong bản giao hưởng số 9 của Beethoven, lần đầutiên giọng người qua hình thức hợp xướng được làm như một nhạc khí trong một thể loại thuần túy dành cho khí nhạc. Hợp xướng tiếp tục được khai thác nhiều trước khi yes các giao hưỡng Mahler. Trong symphony-cantata “Lobgesang” (Bài ca ngợi) của mình, Mendelssohn thậm chí còn để cho tính chất cantata (hợp xướng) nổi trội hơn giao hưởng.

Bản giao hưởng số 6 của Beethoven, “Pastorale”, gầy dựng đầu cho khuynh hướng sáng tác thể loại giao hưởng  chương trình (program symphony), yes tiêu đề. Trong đó, Beethoven đã đặt tên cho 5 chương của mình. Đây cũng là lần đi đầu  thể loại giao hưởng 5 chương. Sau này Berlioz vừa mới nối tiếp sáng kiến của Beethoven để viết “Symphonie fantastique” và giao hưởng bi kịch“Roméo et Juliette”. Hai tác phẩm này được vạch cho dàn nhạc và giọng hát nhưng lại theo một hình thức mới do Liszt sáng tạo: thơ giao hưởng (Symphonic poem).

Nhà soạn nhạc bậc thầy BeethovenNhà soạn nhạc bậc thầy Beethoven

Mặc dù còn  nhiều biến đổi nữa do nhiều tác giả sử dụng phong phú hình thức giao hưởng, nhưng cho đến ngày nay, trong các giao hưởng hiện đại, người xem vẫn có thiên hướng vạch theo cấu trúc 3 hoặc 4 chương. Trong số rất ít nhà soạn nhạc thuộc dòng nhạc bác học của Việt Nam, yes rất ít người vạch thể loại giao hưởng. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể tự hào với nhà soạn nhạc, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam , tác giả của 8 giao hưởng vừa mới được phổ biến ở vài nơi trên xã hội và giao hưởng số 9 vừa được hoàn tất với đề tài Cửu Long dậy sóng . Chỉ tiếc rằng, trong số các học trò đã khả thi nghiệp của ông tại các Nhạc viện, kể cả những người vừa mới lãnh đạo bộ môn Sáng tác tại những hoàn cảnh đó, gần như không ai có được tác phẩm giao hưởng thứ hai ngoài tác phẩm tốt nghiệp! Một nền âm nhạc tuyệt tự?

Tổng kết

Mong rằng thông tin về 3 thể loại nhạc kinh điển sẽ làm thỏa mãn những độc giả đam mê thể loại nhạc kình điển và các tác phẩm giao hưởng kình điển. ATPbook còn rất nhiều tài liệu về sách kinh doanh, tâm lý nếu bạn đọc quan tâm hãy để lại email trong phần comment nhé! Chúc các bạn có những phút giây thư giản.

 

Nóng, Phẳng, Chật  - Tại sao thế giới cần cách mạng xanh và làm thế nào chúng ta thay đổi được tương lai - ATPbook.vn

19/09/2018

Tác phẩm kinh điển: Những bản "Hit" của âm nhạc cổ điển (phần 2) - ATPbook.vn

19/09/2018